Hai đại danh y nước Việt được xưng là bậc tổ của nghề y

Hai đại danh y nước Việt được xưng là bậc tổ của nghề y
06.04.2020 835
Tuệ Tĩnh và Hải Thượng Lãn Ông - Hai vị lương y lừng danh đất Việt

Nghề làm thuốc chữa bệnh ở nước ta đã có từ nghìn năm xưa. Sử sách ghi rằng, từ thời Trần, triều đình đã lập vườn thuốc, làm thuốc dự trữ để phát cho nhân dân khi có dịch bệnh. Thời Hồ bắt đầu lập cơ quan y tế là Quảng Tế Thự và sang đời vua Lê Thánh Tông, nhà vua đã cho lập nhà Tế Sinh đường ở tất cả các địa phương để chăm lo chữa bệnh cho nhân dân.

Trong suốt các thời đại phong kiến Việt Nam, số danh y được lịch sử ghi lại cũng nhiều, nhưng hai danh y Tuệ Tĩnh và Hải Thượng Lãn Ông được người đời ca tụng, không chỉ vì tài năng chữa bệnh, tác phẩm để lại cho đời, mà cao nhất, còn là đức độ của họ nữa.

Những vị danh y đất Hồng Châu

Cả hai vị danh y Tuệ Tĩnh và Hải Thượng Lãn Ông đều quê ở phủ Thượng Hồng, tức xứ Đông cuối thời Lê, và tỉnh Hải Hưng trước đây (nay chia ra thành tỉnh Hải Dương và Hưng Yên).

Tuệ Tĩnh (1330-1400), tên thật là Nguyễn Bá Tĩnh, quê ở làng Nghĩa Phú, tổng Văn Thái, phủ Thượng Hồng, huyện Cẩm Giang, tỉnh Hải Dương. Mồ côi cha mẹ từ nhỏ, ông được gửi vào chùa tu tập. Năm 22 tuổi, ông đỗ Thái Học sinh (học vị Tiến sĩ sau này) nhưng không ra làm quan mà tiếp tục tu hành, pháp danh Tuệ Tĩnh, chuyên tâm nghiên cứu y học, đặc biệt là các bài thuốc nam, trị bệnh, cứu người.

(Ảnh vẽ chân dung thiền sư Tuê Tĩnh)

Không những viết sách, chữa bệnh ông còn tổ chức cho nhân dân biết cách vệ sinh, phòng chống bệnh, dạy cho nhiều đệ tử và biến các chùa thành nơi chữa bệnh, góp phần bảo vệ sức khỏe cho nhân dân ngay từ làng, xã.

Do tài năng nổi bật trong y thuật, Tuệ Tĩnh bị đưa đi cống cho triều đình nhà Minh. Sang Trung Quốc, ông vẫn làm thuốc, nổi tiếng về chữa bệnh, được vua Minh phong là Đại y Thiền sư. Ông qua đời tại Giang Nam, Trung Quốc. Đến tận cuối đời, ông vẫn luôn đau đáu nỗi niềm một ngày được quay lại quê hương, thoát khỏi cảnh đất khách quê người. Khi ông mất, trên bia mộ đã khắc dòng chữ "Ai về nước Nam cho tôi về với", khiến các sứ thần Việt Nam đời sau đến viếng mộ đều cảm thấy thương cảm.

Hải Thượng Lãn Ông tên thật là Lê Hữu Trác (1720-1791), nguyên quán xóm Văn Xá, hương Liêu Xá, huyện Đường Hào, phủ Thượng Hồng, trấn Hải Dương (nay là xã Liêu Xá, huyện Yên Mỹ, tỉnh Hưng Yên), nên sau này, ông lấy biệt hiệu là Hải Thượng Lãn Ông, tức là Ông già lười quê ở trấn Hải Dương, phủ Thượng Hồng, không phải ông già lười trên biển như nhiều người nhầm.

Sinh ra trong một gia đình khoa bảng, có ông, bố, chú ruột đều đỗ cao, làm quan to ở thời vua Lê chúa Trịnh, nhưng khi ông trưởng thành thì gia cảnh đã suy sút. Lúc đầu ông gia nhập quân đội, nhưng ngoài 20 tuổi, người anh ở Hương Sơn mất, ông xin về quê nuôi mẹ già ở thôn Bàu Thượng, xã Tĩnh Diệm, huyện Hương Sơn, phủ Đức Quang, trấn Nghệ An (nay là xã Sơn Quang, huyện Hương Sơn, tỉnh Hà Tĩnh) rồi cả đời gắn bó với nghề thuốc.

Danh tiếng của Hải Thượng Lãn Ông vang vọng khắp đất Hoan Châu. Khi Huy quận công Hoàng Đình Bảo vào trấn thủ Nghệ An, đã cho mời ông đến dinh để bắt mạch, chữa bệnh. Khi Huy quận công về Thăng Long, làm cận thần trong phủ chúa Trịnh, gặp lúc chúa Trịnh Sâm và Thế tử Trịnh Căn bệnh nặng, đầu năm 1782, đã tiến cử với chúa triệu ông về kinh đô chữa bệnh. Ông ở kinh đô gần một năm, ngoài chữa bệnh cho chúa còn chữa bệnh cho rất nhiều người, cho đến khi chúa Trịnh Sâm qua đời, ông mới xin được trở về quê.

Tác giả những bộ sách thuốc kinh điển của đất nước

Sống ở thời Trần, Tuệ Tĩnh đã soạn ra nhiều bộ sách như Nam dược thần hiệu và Nam dược chính bản, sau đổi tên thành Hồng Nghĩa giác tư y thư rất nổi tiếng và có ý nghĩa về lịch sử y học và văn học Việt Nam. Đáng tiếc là khi quân Minh sang xâm chiếm nước ta, chúng đã tịch thu hoặc phá huỷ hết sách vở, nên nguyên tác của các cuốn Dược tính chỉ nam và Thập tam phương gia giảm đều không còn nữa.

Các tác phẩm nói trên chỉ được người đời sau ghi chép lại theo truyền khẩu dân gian mà thôi. Bộ Hồng Nghĩa giác tư y thư của ông để lại gồm hai quyển, quyển Thượng gồm 590 tên vị thuốc Nam, và đặc tính của 220 vị thuốc Nam, viết bằng thơ Nôm theo lối Đường luật. Quyển Hạ viết về các lý luận âm dương ngũ hành sinh hoá vào con người trong tiết khí bốn mùa, sự ảnh hưởng và bệnh tật, cách điều trị lâm sàng.

(Hải Thượng Lãn Ông đã để lại nhiều quyển sách thuốc quý)

Các sách khác của ông như Thập tam phương gia giảm, Bố âm đơn, và Dược tính phú, đều là sách hướng dẫn gia giảm khi dùng thuốc chữa bệnh.

Với những bộ sách đồ sộ này, Tuệ Tĩnh vẫn xứng đáng được coi là ông tổ ngành dược Việt Nam.

Về sau, danh y Hải Thượng Lãn Ông đã kế thừa 496 bài phú dùng thuốc của Tuệ Tĩnh để đưa vào các bộ sách y dược như Lĩnh Nam bản thảo, Hành giản trân nhu, Vệ sinh yếu huyệt…

Với cuốn Nam dược thần hiệu, danh y Tuệ Tĩnh đề cao những công hiệu của các loại thuốc Nam có sẵn ở nước ta, khiến các lương y trong nước có thể xây dựng nền y học tự chủ, tự cường, độc lập, tránh phụ thuộc vào Đông y của Trung Quốc.

Chủ trương của ông là "Nam dược trị Nam nhân", ông nêu lên biện chứng khái quát về dược lý, hướng điều trị của hàng trăm vị thuốc. Ông nhận định, Việt Nam có khí hậu nóng ẩm, nên bệnh thiên về thấp nhiệt, đàm hỏa và thường thì chính khí hư yếu. Do đó, phép chữa sẽ là: thanh nhiệt, trừ thấp, tả hỏa, hóa đàm, công bổ kiêm thi.

Hải Thượng Lãn Ông cũng là một tác gia lớn của nền y học cổ truyền Việt Nam. Ông để lại nhiều tác phẩm lớn như Hải Thượng y tông tâm lĩnh gồm 28 tập, 66 quyển chắt lọc tinh hoa của y học cổ truyền, được đánh giá là công trình y học xuất sắc nhất trong thời trung đại Việt Nam.

Sau chuyến lên kinh đô chữa bệnh cho chúa Trịnh và thế tử, ông cũng để lại tập bút ký Thượng kinh ký sự, trong đó có ghi lại rất nhiều trường hợp chữa bệnh cho từng bệnh nhân, với chi tiết đơn thuốc, hiệu quả… Bộ sách này không chỉ có giá trị về y học mà còn có giá trị văn học, lịch sử, triết học.

Các tấm gương về Y đức

Cả Tuệ Tĩnh và Hải Thượng Lãn Ông đều là những tấm gương sáng ngời về Y đức. Trong các tác phẩm của mình, Tuệ Tĩnh luôn nhắc nhở bản thân phải thương dân bệnh tật chết chóc, lo giữ nước vững bền, trước phải tìm thuốc chữa bệnh ở cây cỏ quanh mình, phổ biến một cách rộng rãi cho dân chúng biết và sử dụng.

Ghi nhớ tài năng của Tuệ Tĩnh, làng Văn Thái, xã Cẩm Văn, huyện Cẩm Giàng, Hải Dương, nơi thờ ông, có đôi câu đối: "Hoàng Giáp phương danh đằng Bắc địa, thánh sự diệu dược chấn Nam bang", tạm dịch: "Thi đậu Hoàng giáp tiếng lừng Trung Quốc, chữa bệnh thần diệu tài quán ở Nam bang".

Hải Thượng Lãn Ông cũng thường xuyên viết về Y đức. Ông viết rằng: "Tôi thường thấm thía: thầy thuốc có nhiệm vụ bảo vệ mạng sống người ta; sự sống chết, điều họa phúc đều ở tay mình xoay chuyển, lẽ nào người có trí tuệ không đầy đủ, hành động không chu đáo, tâm hồn không khoáng đạt, trí quả cảm không thận trọng mà dám theo đòi bắt chước nghề y".

(Chân dung Hải Thượng Lãn Ông)

Với ông, người thầy thuốc chân chính cần có tám chữ: Nhân, minh, đức, trí, lượng, thành, khiêm, cần (biết quan tâm đến người khác, sáng suốt, đức độ, thông minh, rộng lượng, thành thật, khiêm tốn, chăm chỉ, chịu khó).

Đồng thời, ông cũng nhắc người thầy thuốc cần tránh mắc tám tội: "Lười, keo, tham, dốt, ác, hẹp hòi, thất đức".

Trong Thượng kinh ký sự có câu chuyện minh họa rõ y đức của Lãn Ông. Đó là khi ông ở kinh đô Thăng Long chữa bệnh cho chúa Trịnh Sâm và Thế tử, một hôm, cùng lúc có vị tước hầu, người nhà của vị Quốc sư Tào quận công và bà vợ quan phủ Duy Tiên, người nhà vị Thượng thư, Văn quốc sư cùng đến mời đi thăm bệnh.

Ông nói: "Ngôi có tôn ti mà lễ có cấp bậc, các quan đều là đại thần trong nước hiện nay, một lúc cùng cho vời tôi, chẳng biết phải đến nơi nào trước, nơi nào sau. Xin quý hầu, quý bà xử định. Nhưng cả hai người đều vì tình chủ nhân mà kêu nài, ông mới nói:

"Người thầy thuốc lấy điều hoãn cấp (thư thả hay vội vã) làm trước sau. Thấy Tào quận công bệnh trầm trọng, lẽ tất nhiên là việc cấp. Phu nhân Văn quốc sư bị đau liên miên đã lâu, có cơ hoãn. Tôi xin trước hết đến với Tào quân công, ngày hôm sau sẽ đến thăm Văn quốc sư". Nghe vậy, người nhà hai vị đại quan đều thấy thỏa đáng.

Tin chọn lọc khác
Những điều chưa kể về vị Hoàng đế nhà Nguyên – Hốt Tất Liệt
19.11.2020 1692
Mặc dù cuộc đời Hốt Tất Liệt đã bị cuốn vào vòng xoáy của nghiệp binh đao cùng những sóng gió triền miên của cuộc chiến tranh giành quyền lực khốc liệt nhưng có một điều không thể phủ nhận: Hốt Tất Liệt là một vị hoàng đế kiệt xuất, lập ra triều Nguyên ở Trung Quốc.
Nữ hoàng duy nhất ở Việt Nam và cuộc đời bi kịch
07.11.2020 1522
Là nữ hoàng đầu tiên và cũng là duy nhất trong lịch sử vương triều phong kiến Việt Nam, song Lý Chiêu Hoàng (Chiêu Thánh) ở ngôi báu chỉ hơn một năm nên sách sử khi viết về bà chỉ đề cập đến với những dòng sơ lược khiến hậu thế ít biết về cuộc đời lắm nỗi truân chuyên của bà.
Người thành lập ra ngân hàng đầu tiên của Việt Nam
07.04.2020 1300
“Việt Nam Ngân hàng” hay “Công ty tín dụng An Nam” là tổ chức tín dụng đầu tiên do người Việt thành lập và điều hành từ những năm 1926. Chủ tịch đầu tiên của ngân hàng là ông Trần Trinh Trạch, ông chính là cha ruột của công tử Bạc Liêu Trần Trinh Huy.
Chuyện ít biết về ba anh em họ Đinh đã giúp Lê Lợi từ khi khởi nghĩa tới ca khúc khải hoàn
05.04.2020 774
Đinh Lễ, Đinh Bồ và Đinh Liệt ba anh em có công giúp đỡ Lê Lợi trong cuộc khởi nghĩa Lam Sơn (1418-1427) từ khi dựng cờ khởi nghĩa tới ngày toàn thắng.
Giai thoại kỳ thú về niên hiệu Cảnh Hưng của vua Hậu Lê
04.04.2020 760
Vị vua thứ 26 của nhà Hậu Lê có rất nhiều giai thoại và câu chuyện ly kỳ, lạ lùng. Ngay cả đến niên hiệu của ông cũng gắn với một câu chuyện "nhìn chữ đoán mệnh".
Hơn 200 năm trước, triều Nguyễn kiểm soát các dịch bệnh như thế nào?
03.04.2020 812
Cách nay hàng trăm năm, khi khoa học kỹ thuật còn chưa phát triển mạnh mẽ như vậy giờ, người xưa đã chống lại những đợt dịch bệnh càn quét bằng cách nào?
Người phụ nữ nhường khiên, lấy thân che chắn cho Thượng tướng Thái sư Trần Quang Khải
27.03.2020 743
Phía sau thành công của người anh hùng luôn có hình bóng người phụ nữ. Nhắc tới binh nghiệp lẫy lừng của Thượng tướng Thái sư Trần Quang Khải, cũng nên nhắc đến vợ hiền của ông.
Hai người thầy vĩ đại khiến Alexander Đại đế mang ơn cả đời
11.04.2020 989
Trong thời đại của mình, Alexander Đại đế nổi tiếng là một chiến lược gia vĩ đại, một bậc thầy quân sự dụng binh đỉnh cao. Ngay từ năm 16 tuổi, ông đã tham gia trận đánh và giành chiến thắng đầu tiên trong cuộc đời.
Hai chị em dòng dõi Vua Hùng, làm nên cuộc lật đổ nổi tiếng trong sử Việt
10.04.2020 817
Được ghi nhận trước nhất trong những hào kiệt nổi dậy chống nền đô hộ phương Bắc, chị em Hai Bà Trưng đã làm nên một cuộc lật đổ chấn động chính quyền đô hộ Trung Hoa ở đất Việt dạo ấy, và nhân dân ta thì mãi nhắc nhớ với lòng tự hào.
Vị vua kiệt xuất làm rực sáng nước Việt - Lê Thánh Tông
09.04.2020 969
Vua Lê Thánh Tông được các sử gia từ xưa đến nay ghi nhận là vị hoàng đế kiệt xuất, đã lập nên một trong những giai đoạn rực rỡ nhất trong lịch sử Việt Nam thời phong kiến.
Võ Văn Dũng - Chiến tướng hàng đầu của vua Quang Trung, đứng đầu Tây Sơn thất hổ tướng
07.04.2020 1041
Võ Văn Dũng là danh tướng của nhà Tây Sơn, đứng đầu trong Tây Sơn thất hổ tướng. Ông sinh tại thôn Phú Phong, huyện Tuy Viễn, phủ Quy Nhơn vào năm Canh Ngọ 1750 trong một gia đình khá giả.
Hai đại danh y nước Việt được xưng là bậc tổ của nghề y
06.04.2020 836
Với tài năng chữa bệnh cứu người, viết sách dạy về nghề thuốc, cùng tấm gương sáng về y đạo để lại cho hậu thế, hai vị danh y Tuệ Tĩnh và Hải Thượng Lãn Ông xứng đáng được tôn vinh là bậc tổ của nghề y nước ta.
Ngô Quyền - vị tổ trung hưng của nước Việt, vua đứng đầu các vua
05.04.2020 1085
Với võ công trên sông Bạch Đằng lần thứ nhất đánh tan quân xâm lược Nam Hán, giết chết hoàng tử của giặc là Hoằng Tháo, xưng vương khởi đầu nền tự chủ của nước Việt, Ngô Tiên Chủ xứng đáng được đời sau ca tụng là "vua đứng đầu các vua".
Lệ Hải Bà Vương - người khiến giặc Ngô cảm thán
04.04.2020 1013
Đến hôm nay, sau 1772 năm, những lời nói đanh thép của Bà Triệu hay hình ảnh bà oai vệ mặc giáp vàng vung kiếm trên đầu voi xông pha dẹp giặc vẫn còn lưu giữ mãi trong lòng mỗi người dân đất Việt.
'Hùm thiêng' nước Việt Đề Thám khiến giặc ngoại xâm khiếp sợ
03.04.2020 824
"Mỗi khi quân giặc xông tới, cụ cùng nghĩa quân thường thủ hiểm một chỗ, bình tĩnh đợi giặc lao vào vừa tầm súng mới bắn. Mà bắn là ít khi chệch"
Cặp phu thê đại tướng tài giỏi, tài trí hơn người nhà Tây Sơn
02.04.2020 738
Nếu như Võ Văn Dũng là võ tướng số 1 dưới trướng Quang Trung thì Trần Quang Diệu và Bùi Thị Xuân lại nổi danh với tài trí hơn người và tấm lòng trung thành son sắt.
Vị vua sáng chói của nước Việt - Lý Thái Tổ
01.04.2020 920
Lý Thái Tổ dấy lên, trời mở điềm lành hiện ra ở vết cây sét đánh. Có đức tất có ngôi, bởi lòng người theo về - Đại Việt sử ký toàn thư chép.
Đội Cấn - người khởi binh Thái Nguyên và ước mơ Đại Hùng Đế Quốc
11.03.2020 1353
Trong tình cảnh đất nước bị đô hộ bởi người Pháp, các cuộc khởi nghĩa liên tiếp nổ ra nhưng đều thất bại, thì cuộc binh biến của binh lính người Việt ở Thái Nguyên gắn liền với tên tuổi Đội Cấn trở thành một sự cổ vũ rất lớn cho những người yêu nước lúc đó.
Đinh Liệt vị công thần trong việc khai quốc cho đời nhà Lê
24.02.2020 1746
Đinh Liệt là vị danh tướng khai quốc thời Lê sơ, từng tham gia hội thề Lũng Nhai, làm quan trụ cột qua bốn đời vua, góp công lớn giúp Giang Sơn thịnh trị dưới thời vua Lê Thánh Tông. Thế hệ con cháu 7 đời của ông đều có người làm võ tướng quan trọng của triều đình.
Lý Thái Tông vị minh quân tài năng có tướng lạ
14.02.2020 2355
Vua Lý Thái Tông có tên là Lý Phật Mã, sinh ra ở chùa Duyên Ninh thuộc cố đô Hoa Lư. Là con trai trưởng của vua Lý Thái Tổ và bà Lê Thị Phất Ngân. Lúc mới sinh Lý Phật Mã đã có tướng lạ, sau gáy có 7 nốt ruồi chụm lại như chòm sao thất tinh bắc đẩu.
Phạm Ngũ Lão - vị tướng hiếm có của Hưng Đạo Vương thời nhà Trần
14.02.2020 2618
Những thứ lấy được trong khi đánh giặc đều sung vào kho tàng trong quân, coi tiền của như không. Phạm Ngũ Lão thực là bậc danh tướng lúc bấy giờ. Là danh tướng nhà Trần, Phạm Ngũ Lão với cơ duyên "giữa đường đan sọt giáo đâm không biết" đã gặp gỡ Quốc công Hưng Đạo Vương, để rồi trổ hết tài hãn mã mà phụng sự đất nước đánh Nguyên, dẹp yên nhiễu loạn của Ai Lao, Chiêm Thành.
Tiến sĩ đầu tiên của vùng đất Nam bộ - Phan Thanh Giản
07.02.2020 1439
Là tiến sĩ đầu tiên của vùng đất Nam bộ, Phan Thanh Giản đã đưa ra những đề xuất thay đổi, học hỏi phương Tây để đất nước vững mạnh hơn, có thể đứng vững trước người Pháp, tiếc rằng Vua không nghe theo. Trong tình thế vũ khí thô sơ không thể chống giặc, lại bị giặc lừa, ông đành giao 3 tỉnh miền Tây cho Pháp với điều kiện đảm bảo mạng sống cho toàn bộ binh lính và dân chúng, còn bản thân mình thì tự tử để giữ tròn khí tiết.
Nguyễn Khoa Đăng: Vị quan trừ bạo an dân được ví như Bao Chửng thời nhà Nguyễn
14.01.2020 1307
Nguyễn Khoa Đăng thời nhà Nguyễn lập được nhiều công lao lớn. Người dân xem ông như Bao Công bởi ông đã giúp dân trấn áp đạo tặc, lại không sợ cường quyền, đòi tiền công từ cả người nhà của Chúa, yêu cầu các Hoàng thân quốc thích phải theo phép nước bắt đầu từ người cao nhất, khiến ai cũng nể sợ, giúp triều đình giữ được kỷ cương.
Bùi Viện - người xây dựng quân đội tuần dương ra nước ngoài đầu tiên của Việt Nam
09.01.2020 1452
Trong tình cảnh hải quân nhà Nguyễn yếu kém, cướp biển Tàu ô khống chế toàn bộ vùng biển khiến việc giao thương bị ngưng trệ, các chuyến hàng của Triều đình cũng liên tục bị tấn công cướp phá, thì quân đội tuần dương ra đời, gắn liền với tên tuổi Bùi Viện. Đây là bước tiến lịch sử đưa tới sự giao thương với các nước phương Tây của Việt Nam thời đó.
Tin xem nhiều
Tin mới nhất